3 Năm Ly Hôn,Đại Gia Cùng Mẹ Phát Cơm Từ Thiện Sững Sờ Khi Gặp Vợ Cũ Địu Cặp Song Sinh Đứng Xếp Hàng…..

 3 Năm L;y H;ôn,Đại Gia Cùng Mẹ Phát Cơm Từ Thiện Sững Sờ Khi Gặp Vợ Cũ Địu Cặp Song Sinh Đứng Xếp Hàng…..




Tôi là Nguyễn Thúy Vi, 28 tuổi, một người mẹ đơn thân với hai đứa con sinh đôi. Ba năm qua, tôi sống trong một căn phòng trọ chưa đầy 15 mét vuông, mái tôn rỉ sét, tường bong tróc ẩm mốc. Thế mà trước đây, tôi từng là vợ của một đại gia bất động sản, sống trong biệt thự triệu đô, đi xe hơi sang trọng. Cuộc đời tôi rẽ sang một ngả khác từ một tờ giấy chẩn đoán vô sinh giả.


Ba năm trước, khi Thành – chồng tôi – bắt đầu có những bước tiến vượt bậc trong sự nghiệp, anh thay đổi. Những lời xì xào của bạn bè làm ăn về người vợ quê mùa, không biết diện đồ hiệu, không biết chơi golf, cứ như những giọt nước nhỏ đều đặn làm mòn đi tình cảm của anh dành cho tôi. Đỉnh điểm là chuyện con cái. Sau bốn năm kết hôn, tôi vẫn chưa có thai. Gia đình, dòng họ bắt đầu tạo áp lực.


Rồi một ngày, Thành đưa tôi đến một phòng khám tư nhân danh tiếng do ông Phương – một bác sĩ sản khoa có tiếng – làm chủ. Tôi làm xét nghiệm, chụp chiếu đủ kiểu. Một tuần sau, kết quả được gửi về nhà. Tôi nhớ như in cái đêm đó: Thành ngồi trong phòng làm việc, khói thuốc mù mịt. Trên bàn là một tập giấy dày. Anh không nói gì, chỉ đẩy nó về phía tôi.
Tôi cầm lên, đọc. Dòng chữ in đậm cuối cùng khiến tôi như bị một búa tạ đập vào ngực: “Tổn thương tử cung nghiêm trọng, cơ hội mang thai tự nhiên gần như bằng không.” Kèm theo đó là tờ đơn ly hôn, đã được anh ký sẵn.


Tôi không khóc. Tôi không cầu xin. Tôi chỉ nhìn anh – người đàn ông từng ngồi ăn mì tôm cùng tôi trong căn phòng trọ chật chội những ngày đầu lập nghiệp – và thấy một con người hoàn toàn xa lạ. Tôi ký. Sáng hôm sau, tôi thu xếp vali quần áo cũ, rời đi. Tôi không động vào bất cứ thứ gì trong căn nhà đó, kể cả cuốn sổ tiết kiệm anh để lại trên bàn trang điểm. Tôi bước ra khỏi cuộc đời anh như tôi đã bước vào – với hai bàn tay trắng.


Nhưng tôi không biết rằng, khi rời đi, tôi đã mang thai. Hai tháng. Cơ địa yếu, chu kỳ kinh nguyệt không đều, tôi không hề hay biết. Tôi về một vùng quê hẻo lánh, thuê một căn phòng trọ, xin làm đủ thứ nghề để sống: rửa bát thuê, dọn dẹp nhà cửa, nhận hàng thủ công về làm. Cho đến một ngày, tôi ngất xỉu trên đường đi chợ, được người hàng xóm đưa vào viện. Bác sĩ bảo tôi mang thai đôi, được 22 tuần, và thai nhi hoàn toàn khỏe mạnh.


Tôi khóc. Khóc vì sung sướng, khóc vì tủi thân, khóc vì những tháng ngày gian khổ phía trước. Nhưng tôi không một phút do dự: tôi sẽ giữ các con. Tôi sẽ một mình nuôi chúng.
Ngày các con chào đời, tôi nhớ như in. Bé Đức nặng 1,8 kg, bé An nặng 2,1 kg – cả hai đều non tháng, phải nằm lồng ấp. Tôi nằm trên giường bệnh công cộng, tự xoay sở, không một người thân bên cạnh. Mỗi lần nhìn qua lớp kính khu săn sóc đặc biệt thấy hai đứa con bé bỏng, tôi chỉ biết khóc, rồi tự lau nước mắt, cố gắng ăn uống để có sữa.


Ba năm qua, cứ ngỡ mọi gian khổ đã qua. Tôi xin được việc làm ổn định, các con dần khỏe mạnh. Rồi định mệnh lại giáng một đòn chí tử. Bé Đức bắt đầu có những cơn sốt kéo dài, người mệt mỏi, da xanh xao, xuất hiện những mảng bầm tím bất thường. Tôi đưa con vào bệnh viện đa khoa trung tâm thành phố. Bác sĩ chỉ định làm sinh thiết tủy. Kết quả sơ bộ: nghi ngờ bạch cầu cấp dòng tủy. Ung thư máu.


Tất cả tiền dành dụm ba năm qua – ít ỏi lắm, chỉ đủ cho những đợt xét nghiệm và nhập viện ban đầu. Tôi biết phía trước là một cuộc chiến dài, tốn kém vô cùng. Tôi không còn cách nào khác. Tôi bắt đầu xếp hàng nhận cơm từ thiện mỗi sáng trước cổng bệnh viện. Mỗi hộp cơm tiết kiệm được một bữa, tôi có thể dồn tiền mua thuốc cho con.
Sáng hôm ấy, trời nắng như đổ lửa. Tôi dắt bé An, địu bé Đức trên lưng, xếp hàng chờ đến lượt. Dòng người lam lũ, những gương mặt hằn sâu mệt mỏi, lo âu. Tôi cúi gằm mặt, chỉ mong đến lượt mình thật nhanh. Bỗng nhiên, có tiếng xôn xao phía trước. Tôi ngước lên. Và thời gian như ngừng trôi.


Trước mặt tôi, cách một chiếc bàn gỗ, là Thành – chồng cũ của tôi. Anh ta mặc áo phông xám giản dị, tay cầm một hộp cơm, đang chuẩn bị trao cho người đứng đầu hàng. Anh ta phát cơm từ thiện. Anh ta, người đàn ông giàu có nhất nhì thành phố, đang đứng ở cái nơi khốn cùng này để phát cơm.
Tôi muốn quay lưng bỏ chạy. Tôi không muốn anh ta thấy tôi trong bộ dạng này: quần áo sờn rách, tay xách nách mang hai đứa trẻ, xếp hàng xin ăn. Nhưng đã quá muộn. Mắt chúng tôi chạm nhau.


Ánh mắt anh ta từ thoáng ngỡ ngàng chuyển sang bàng hoàng, rồi đau đớn. Anh ta nhìn tôi, rồi nhìn hai đứa trẻ. Bé An giống anh như đúc, cái vầng trán cao, cái xoáy tóc trên đỉnh đầu. Bé Đức nằm trên lưng tôi, gương mặt xanh xao, hốc hác nhưng đường nét vẫn rõ là con của anh……………………..Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
Bà Thu – mẹ chồng cũ – từ phía sau bước lên, nhìn thấy tôi, bà òa khóc. Bà chạy đến, nắm lấy tay tôi: “Vi ơi, con khổ quá! Hai đứa nhỏ này là con của Thành phải không? Sao con lại ra nông nỗi này?” Tôi chỉ lặng lẽ rút tay, cúi đầu, rồi dắt con bỏ đi. Tôi không thể nói lời nào. Cổ họng tôi nghẹn đắng.


Tôi bước nhanh vào con hẻm nhỏ bên cạnh bệnh viện, nơi có căn phòng trọ tôi thuê. Tôi biết Thành và bà Thu sẽ đuổi theo. Và họ đã làm vậy. Khi tôi vừa đặt chân đến cửa phòng, bà Thu đã chạy đến, ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Thành đứng sau lưng bà, đôi mắt đỏ hoe, hai tay run rẩy. Anh ta không nói gì. Có lẽ anh ta cũng không biết nên nói gì.
Tôi để bà Thu vào phòng. Căn phòng 15 mét vuông hiện ra trước mắt họ: chiếc giường cũ ọp ẹp, chiếc bếp ga mini rỉ sét, mấy bộ quần áo của các con phơi trên dây chằng chịt, góc tường ẩm mốc, mùi thuốc nam và mùi đói nghèo pha trộn. Bà Thu khóc to hơn. Thành thì đứng lặng, hai nắm tay siết chặt đến trắng bệch.


Đêm đó, Thành không về. Anh ta ngồi ở chiếc ghế đá ngoài hành lang khu trọ, cả đêm. Tôi biết, vì qua khe cửa, tôi thấy ánh lửa thuốc lá đỏ lập lòe trong bóng tối. Sáng hôm sau, bà Thu đưa cho tôi một phong bì dày: “Vi à, mẹ biết con không muốn, nhưng vì các con, con hãy nhận. Đây là tiền mẹ để dành, không phải của Thành.” Tôi lắc đầu. Tôi nhận của bà Thu, nhưng không nhận một đồng nào từ Thành.


Rồi Thành bắt đầu xuất hiện ở bệnh viện. Anh ta tự nguyện làm xét nghiệm máu để xác định nhóm máu và các chỉ số HLA phục vụ ghép tủy. Bé Đức có nhóm máu hiếm – Rh âm tính – giống anh. Kết quả xét nghiệm cho thấy tỷ lệ tương thích sinh học giữa anh và bé Đức đạt trên 90% – tỷ lệ rất cao đối với ghép tế bào gốc từ người thân. Từ ngày đó, Thành biến thành một người hộ lý thực thụ. Anh ta học cách pha sữa, học cách thay bỉm, học cách dỗ con khi đau đớn sau những đợt truyền hóa chất. Anh ta thức trắng đêm quạt cho con khi con sốt co giật. Anh ta cúi xuống, ghé tai con, thủ thỉ những câu chuyện về thế giới bên ngoài, về những điều kỳ diệu mà con sẽ được thấy sau khi khỏi bệnh.


Tôi vẫn lạnh lùng. Tôi không nói chuyện với anh ta, mọi sự trao đổi đều qua bà Thu. Nhưng tôi không thể không nhận ra sự thay đổi. Cái tôi kiêu ngạo của một đại gia đã biến mất, nhường chỗ cho một người cha đang học cách yêu thương con. Một lần, khi tôi bất tỉnh vì kiệt sức sau ba ngày liền túc trực bên con, tôi tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên chiếc giường gấp cạnh cửa sổ, người được đắp chăn cẩn thận. Trên bàn cạnh giường là tô cháo nóng và mảnh giấy ghi nguệch ngoạc: “Em ăn đi, có anh trông con rồi.” Tôi cầm mảnh giấy, lòng rối bời.
Một sự thay đổi lớn hơn ập đến từ một hướng khác. Một hôm, bà Thu dẫn theo một người đàn ông trung niên vào phòng bệnh. Tôi nhận ra ông Phương – cái bác sĩ năm xưa. Ông ta già đi nhiều, mắt đầy tơ máu, khuôn mặt phờ phạc. Vừa nhìn thấy tôi, ông ta quỳ sụp xuống nền gạch lạnh, dập đầu: “Cô Vi, tôi có tội. Năm đó tôi nhận tiền của cô Nhã, mua chuộc để làm giả kết quả xét nghiệm, bảo cô bị vô sinh. Tôi là đồ khốn nạn. Giờ con trai tôi bị tai nạn thực vật, đó là quả báo. Tôi không thể giấu thêm được nữa.”

Căn phòng như tối sầm lại. Tôi nhìn Thành. Mặt anh ta trắng bệch, môi run run. Anh ta không hỏi, không quát tháo. Anh ta chỉ quay sang nhìn tôi, mắt đỏ hoe, rồi cúi đầu.

Tôi không khóc. Tôi đã khóc quá nhiều cho cái gọi là số phận. Tôi chỉ thấy một sự nhẹ nhõm đến lạ. Hóa ra tôi không bị vô sinh. Hóa ra các con tôi là kết quả của một tình yêu chân thật, không phải phép màu. Hóa ra ba năm tủi nhục, ba năm lang bạt chỉ vì lòng tham và sự thủ đoạn của một người đàn bà khác. Nhã – cô tiểu thư sành điệu, người mà Thành định cưới làm vợ sau khi ly hôn với tôi – đã dùng 500 triệu đồng để mua chuộc ông Phương.

Bà Thu gọi điện, Nhã đến. Cô ta vẫn xinh đẹp, lộng lẫy, nhưng khi thấy ông Phương quỳ gục trong phòng bệnh, mặt cô ta tái mét. Thành nhìn cô ta, giọng lạnh như băng: “Cô mua chuộc bác sĩ, làm giả kết quả xét nghiệm vô sinh. Cô còn định xóa dữ liệu xét nghiệm nhóm máu của con trai tôi trên hệ thống y tế quận để tôi không biết nó là con tôi. Tôi phải gọi là gì hả Nhã?” Nhã lắp bắp: “Anh Thành, anh nghe em nói…” Thành giơ tay, cắt lời: “Từ nay, mọi quan hệ làm ăn giữa tôi và gia đình cô chấm dứt. Hồ sơ tội ác của cô, tôi sẽ giao cho cơ quan chức năng. Cô nên chuẩn bị tinh thần.” Nhã bỏ chạy như một kẻ mất hồn.

Sau đó, cuộc đời tôi rẽ sang một hướng khác. Bé Đức được ghép tế bào gốc từ Thành. Ca phẫu thuật thành công. Những đợt hóa trị liều cao qua đi, các chỉ số máu dần ổn định. Ba tháng sau, bác sĩ thông báo có thể xuất viện. Khi nhận tờ giấy báo kết quả cuối cùng, tôi đã khóc. Lần này là khóc vì hạnh phúc.

Chiếc xe bán tải chở chúng tôi về. Tôi tưởng Thành sẽ đưa chúng tôi về căn biệt thự cũ. Nhưng không. Xe dừng trước một ngôi nhà cấp bốn có khoảng sân nhỏ, cổng sắt rỉ sét, nhưng sân được quét dọn sạch sẽ, mấy chậu hoa mười giờ nở rực rỡ. Đây là căn nhà đầu tiên chúng tôi mua khi mới cưới, trước khi Thành giàu có. Thành đã cho người sơn sửa, dọn dẹp.

Tôi nhìn ngôi nhà cũ, nhìn hai đứa trẻ đang chạy nhảy trong sân, nhìn bà Thu đang cười qua những giọt nước mắt. Thành bước đến bên tôi, nhẹ nhàng: “Vi, anh biết anh có lỗi lớn. Anh không xin em tha thứ ngay bây giờ. Nhưng hãy để anh được ở bên cạnh các con, được làm tròn bổn phận của một người cha. Anh sẽ chứng minh bằng hành động.” Tôi nhìn anh, lòng dâng lên một cảm xúc khó tả – không phải tình yêu, vì tình yêu đã chết từ ba năm trước, nhưng là một thứ gì đó ấm áp, dung dị, như món canh chua cá lóc mẹ nấu ngày bé.
Rồi những ngày tháng bình yên trôi qua. Thành ở lại căn nhà cũ, không về biệt thự. Anh học cách làm những công việc nhà, đưa đón các con đi học, cùng tôi nấu cơm tối. Những vết thương cũ từ từ liền lại, không phải không còn sẹo, nhưng không còn đau đớn. Tôi chưa thể yêu anh lại, nhưng tôi đã có thể cười với anh, đã có thể ngồi ăn cơm cùng anh trong im lặng mà không thấy ngột ngạt.

Sáng thứ bảy cuối tháng, chúng tôi lại cùng nhau đến bệnh viện phát cơm từ thiện. Lần này không phải với tư cách người cho và người nhận. Chúng tôi cùng đứng sau chiếc bàn gỗ, cùng trao những hộp cơm nóng hổi cho những mảnh đời khốn khó. Tay chúng tôi chạm nhau, không né tránh. Tôi không biết tương lai sẽ thế nào, liệu chúng tôi có trở lại là vợ chồng hay không. Nhưng tôi biết, các con tôi có một người cha yêu thương chúng. Và điều đó, có lẽ, là đủ.

 

Có thế bạn quan tâm

Tuổi пàყ đại kỵ với cây Lưỡi Hổ: Dù chỉ trồng 1 cây cũng nghèo, tiền của đội nón ra đi sạch

Binh lính thời xưa giải quyết "nhu cầu" theo cách đặc biệt, nhiều người đến nay vẫn không tin

Cây lưỡi hổ thích thứ nước пàყ nhất: Cứ đổ vào gốc là chồi lên tua tủa, hoa nở từng chùm lớn

Đổ xăng đừng hô 50k hay đầy bình: Phải nắm được 6 mẹo sau vừa tiết kiệm, vừa tránh gian lận

Phụ nữ ngoại tình chỉ “thèm” 1 thứ, đàn ông biết mà giữ vợ

Bài thơ từ viện dưỡng ʟão được ʟan truyền khắp nước Úc

Khi phụ nữ thích một người đàn ông từ tận đáy lòng, cô ấy sẽ lộ rõ 5 biểu hiện

Nhân viên siêu thị tiết ʟộ: 6 thứ không bao giờ mua trong siêu thị mình bán dù đại hạ giá

Chồng đề nghị ly hôn vì đã có bồ bên ngoài, tôi cay đắng gật đầu. 1 tháng sau thì nhận được tin dữ từ bệnh viện “Chồng chị đang hấp hối”

Đặt tủ lạпҺ ở 3 vị trí пàყ cҺẳпg kҺác пào ''пém tιḕп qua cửa cửa sổ'': Hóa ƌơп tιḕп ƌιệп tăпg cҺóпg mặt, tιḕm ẩп пguү cơ ''Ьom Һẹп gιờ''