Con trai bị lính địch bế đi khi còn đỏ hỏn, bé trai thất lạc giữa khói lửa, gần nửa thế kỷ sau người lính đó trở về làng báo người mẹ tin tức lặng cả người…
Năm 1977, làng ven sông còn tan hoang vì chiến tranh. Trong lần càn quét cuối cùng, khi bà Năm chạy tán loạn giữa làn đạn để tìm chồng, thì chỉ một tích tắc quay lưng, đứa con trai gần 3 tuổi đang ngồi trong nong thóc bị một tên lính Tây cao lớn bế bổng lên, biến mất giữa biển khói.

Hôm đó, cả nhà bà chỉ còn lại mình bà sống sót.
Người ta an ủi: “Chắc nó chết rồi, thôi thì coi như trời bắt.”
Nhưng
bà không tin. Không khi nào bà thôi dựng bàn thờ con bên cạnh chồng,
hằng ngày vẫn úp bát cơm cúng đứa con bé bỏng, ánh mắt già nua chưa một
lần cạn hy vọng.
Bà hay mơ. Mơ thấy nó về, đứng ngoài cổng, gọi khẽ:
“Mẹ ơi, con về rồi…”
Ông lặng lẽ tiến đến, rút từ túi áo ra tấm ảnh đã úa vàng, giơ lên trước mặt bà Năm.
Tấm ảnh chụp một đứa bé chừng ba tuổi đang mếu máo ngồi trong lòng một người lính Mỹ – với một vòng bạc nhỏ xíu lấp ló trên cổ tay.
“Bà còn nhớ tấm vòng này không?” – ông hỏi.
Bà Năm run rẩy. Tay bà cũng đang đeo một chiếc vòng giống hệt.
Chiếc vòng đôi khắc tên “Thắng 1974” – tên con trai bà.
Người lính già đặt chiếc hộp gỗ lên bàn thờ, mở nắp.
Bên trong là:
Một chiếc áo trẻ em bạc màu được gấp ngay ngắn.
Mảnh khăn tay có thêu chữ “Mẹ ơi đợi con”.
Và một lá thư tiếng Việt viết bằng nét chữ non nớt, nguệch ngoạc nhưng rõ từng dòng:
“Nếu con tìm được về, mẹ còn sống không? Con vẫn luôn mơ thấy tay mẹ ẵm con giữa lửa cháy…”
Bà Năm lặng người, ánh mắt dại đi. Rồi bà thét lên, nhào đến ôm chặt chiếc áo nhỏ như thể đó là đứa con của mình, vừa khóc vừa lẩm bẩm gọi:
“Thắng ơi… con về thật rồi hả con ơi… Mẹ đây…”
David mất, để lại bí mật. Và chính người lính già – đồng đội sống sót duy nhất – đã vượt nửa vòng trái đất, mang toàn bộ di vật trở lại, thực hiện ước nguyện cuối cùng của người đã khuất: “Đưa thằng bé về với mẹ.”